04 Tháng 09

Sau những trận lũ vượt lịch sử năm 2025, việc sửa đổi 11 quy trình liên hồ chứa đặt ra mệnh lệnh: vận hành phải đi trước thiên tai, lấy an dân làm đích đến.

Trước những diễn biến ngày càng cực đoan và khó lường của thiên tai, “an dân” mang ý nghĩa rất cụ thể: người dân phải được sống an toàn trên chính mảnh đất bên những dòng sông đã nuôi sống bao thế hệ. Với vùng hạ du, sự bình yên đôi khi được quyết định bởi một bản tin đến sớm vài giờ, một mực nước hồ được hạ đúng lúc hay lệnh sơ tán được ban hành trước khi dòng lũ tràn về.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường sửa đổi 11 quy trình vận hành liên hồ chứa giải quyết hài hòa bài toán phòng, chống lũ và bảo đảm nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất khi mùa cạn đến. Ảnh: Tùng Đinh.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường sửa đổi 11 quy trình vận hành liên hồ chứa giải quyết hài hòa bài toán phòng, chống lũ và bảo đảm nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất khi mùa cạn đến. Ảnh: Tùng Đinh.

Từ yêu cầu đó, việc Bộ Nông nghiệp và Môi trường sửa đổi 11 quy trình vận hành liên hồ chứa không đơn thuần là điều chỉnh các mốc mực nước hay ngưỡng lưu lượng. Đây là bước thiết lập lại “hàng rào an toàn” cho vùng hạ du, đồng thời giải quyết hài hòa bài toán phòng, chống lũ và bảo đảm nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất khi mùa cạn đến.

Những dòng lũ vượt khỏi đường biên cũ

Năm 2025 để lại bài học lớn về mức độ cực đoan, khó lường của thiên tai. Trên Biển Đông xuất hiện 21 cơn bão và áp thấp nhiệt đới; lũ vượt lịch sử trên 21 tuyến sông ở Bắc Bộ và Trung Bộ. Riêng bão số 13 cùng các đợt mưa lũ kéo dài tại miền Trung khiến 220 người chết và mất tích, thiệt hại gần 40.000 tỷ đồng.

Những diễn biến này cho thấy lũ cực đoan không còn là kịch bản xa xôi mà đã trở thành thách thức trực tiếp đối với quản lý và vận hành hồ chứa.

Tại hồ Bản Vẽ trên sông Cả, rạng sáng 23/7/2025, lưu lượng nước về hồ đạt 12.800 m³/s nhưng hồ chỉ điều tiết 3.285 m³/s xuống hạ du, cắt khoảng 74% đỉnh lũ. Khi còn đủ dung tích, hồ chứa có thể phát huy hiệu quả rõ rệt trong giảm lũ, kéo dài thời gian ứng phó và hạn chế thiệt hại.

Tuy nhiên, khi lượng nước về vượt quá khả năng điều tiết, giới hạn của công trình cũng bộc lộ. Lúc 18 giờ ngày 19/11/2025, lưu lượng về hồ Sông Ba Hạ đạt 16.160 m³/s, trong khi lưu lượng điều tiết xuống hạ du là 16.100 m³/s. Đỉnh lũ tại Củng Sơn lên tới 40,99 m, vượt mức lịch sử năm 1993 tới 1,09 m. Khi đó, hồ buộc phải xả gần tương đương lượng nước đến để bảo đảm an toàn công trình.

Từ thực tế này, câu hỏi quan trọng không chỉ là hồ có thể cắt được bao nhiêu lũ, mà còn là người dân hạ du còn bao nhiêu thời gian để ứng phó khi hồ buộc phải xả?

Vì vậy, phòng, chống lũ không thể chỉ tính bằng số cửa xả hay dung tích hồ. Hiệu quả vận hành còn phụ thuộc vào chất lượng dự báo, thời điểm ra quyết định, tốc độ truyền cảnh báo và khả năng tổ chức sơ tán trong điều kiện mất điện, mất sóng hoặc thông tin liên lạc bị gián đoạn.

Vận hành hiệu quả các hồ chứa nước. Ảnh: Tùng Đinh.

Vận hành hiệu quả các hồ chứa nước. Ảnh: Tùng Đinh.

Thực tế tại hồ Tuyên Quang ngày 30/9/2025 cho thấy vận hành công trình chỉ thực sự hiệu quả khi gắn với hành động ở hạ du. Hồ đã cắt 1.925 m³/s khi lưu lượng đỉnh lũ về đạt 6.985 m³/s; đồng thời, cán bộ nhà máy phối hợp với chính quyền địa phương đưa người và tài sản tại các vùng thấp đến nơi an toàn.

Một quy trình vận hành không thể dừng trong phòng điều khiển. Quy trình phải kết nối từ dự báo, ra quyết định, vận hành hồ đến cảnh báo, sơ tán và hành động tại từng khu dân cư. Những tình huống bất lợi nhất cũng phải được tính trước để thông tin vẫn đến được với người dân khi mất điện hoặc liên lạc bị chia cắt.

Mỗi quyết định vận hành phải hướng về người dân

Từ những bài học trên, điểm xuyên suốt trong sửa đổi 11 quy trình là chuyển từ điều hành chủ yếu theo các mốc “cứng” sang vận hành linh hoạt, bám sát diễn biến thực tế. Dữ liệu mưa, lưu lượng nước về hồ, mực nước hạ du, dự báo trung hạn và trạng thái công trình cần được cập nhật, kết nối liên tục để hỗ trợ quyết định theo thời gian thực.

Trên lưu vực sông Hồng, 7 hồ lớn được nghiên cứu vận hành theo hướng sử dụng hiệu quả dung tích hữu ích, chủ động ứng phó với các tình huống lũ bất thường, khẩn cấp hoặc vượt lịch sử. Việc tích, xả nước được tính toán kết hợp giữa dự báo 5-10 ngày, số liệu quan trắc và công cụ hỗ trợ ra quyết định. Cách tiếp cận này vừa tăng khả năng phòng lũ, vừa bảo đảm nguồn nước cho đồng bằng Bắc Bộ trong mùa cạn.

Đối với lưu vực sông Mã và sông Cả, dự thảo cập nhật các trận lũ cực đoan những năm 2017, 2024 và 2025, bổ sung tình huống khẩn cấp và làm rõ trách nhiệm của địa phương, chủ hồ. Đề xuất đưa hồ Cánh Tạng tham gia giảm lũ cho hạ du sông Bưởi cũng cho thấy tư duy đang chuyển từ vận hành từng công trình sang phối hợp trên toàn hệ thống.

Tại lưu vực sông Ba, mùa lũ được phân chia cụ thể theo từng hồ, cụm hồ và đặc điểm tiểu lưu vực. Tín hiệu vận hành không chỉ dựa vào mực nước tại các trạm hạ du mà bổ sung ngưỡng lưu lượng lũ đến hồ. Trong mùa cạn, dự thảo chia thành bốn thời kỳ cấp nước, bám sát lịch sản xuất vụ Đông Xuân và Hè Thu, thay cho quy định một thời kỳ sử dụng nước kéo dài gần suốt mùa cạn.

An dân trong mùa lũ không thể tách rời bảo đảm nguồn nước mùa cạn. Ảnh: Tùng Đinh.

An dân trong mùa lũ không thể tách rời bảo đảm nguồn nước mùa cạn. Ảnh: Tùng Đinh.

Hay với lưu vực Vu Gia - Thu Bồn, bài toán không chỉ là tạo thêm dung tích đón lũ mà còn phải giữ đủ nước cho Nhà máy nước Cầu Đỏ và vùng hạ du Đà Nẵng trong mùa khô. Dự thảo đưa mực nước tại đập An Trạch thành một tín hiệu điều hành, đồng thời tăng tính chủ động của Chủ tịch UBND thành phố trong quyết định hạ mực nước đón lũ, tích nước cuối mùa và điều chỉnh cấp nước mùa cạn.

Những thay đổi này xuất phát từ thực tiễn và quá trình tham vấn. Điểm chung được thống nhất là vận hành phải linh hoạt hơn, quyết định phải kịp thời hơn và an toàn của người dân phải được đặt ở vị trí cao nhất.

Một điểm đáng chú ý là tăng thẩm quyền cho Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố - cấp chính quyền gần dân, nắm rõ hơn những khu vực có nguy cơ ngập và cộng đồng cần sơ tán. Tuy nhiên, trao quyền phải đi cùng trách nhiệm. Các quyết định hạ sâu mực nước hồ, sử dụng dung tích trên mực nước dâng bình thường hay tích nước sớm cuối mùa phải dựa trên dự báo, quan trắc, phương án của chủ hồ và hệ thống hỗ trợ ra quyết định.

Theo ông Trương Xuân Tý, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Đà Nẵng, tăng thẩm quyền chỉ hiệu quả khi đi kèm dữ liệu kịp thời và trách nhiệm rõ ràng. Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố phải có đủ thông tin để quyết định trong tình huống bất thường; chủ hồ phải chủ động tính toán, đề xuất phương án và chịu trách nhiệm về an toàn công trình. Các địa phương hạ du cũng cần thường xuyên cập nhật bản đồ ngập lụt, khu vực sơ tán và lực lượng ứng phó tại chỗ.

Đặc biệt, an dân trong mùa lũ không thể tách rời bảo đảm nguồn nước mùa cạn. Nếu hạ mực nước hồ quá thấp nhưng lũ không xuất hiện như dự báo, hồ có thể không tích đủ nước cho mùa sau. Tại miền Trung, đầu tháng 9 vẫn là thời điểm quan trọng của vụ Hè Thu. Phía sau mỗi mực nước hồ là nước sinh hoạt, ruộng đồng và sinh kế của hàng vạn gia đình.

Điều tiết, phân bổ nước theo trạng thái nguồn nước và nhu cầu thực tế của hạ du. Ảnh: Tùng Đinh.

Điều tiết, phân bổ nước theo trạng thái nguồn nước và nhu cầu thực tế của hạ du. Ảnh: Tùng Đinh.

Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước Châu Trần Vĩnh nhấn mạnh, không thể chỉ tính đến dung tích phòng lũ mà bỏ qua khả năng cấp nước cho hạ du. Mực nước hồ cần được xác định linh hoạt theo từng thời kỳ, kịch bản mưa lũ và nhu cầu sử dụng nước thực tế. Phương án cuối cùng phải mang lại lợi ích tốt nhất cho toàn lưu vực, thay vì tối ưu riêng cho một hồ, một nhà máy hay một ngành sử dụng nước.

Vì vậy, thứ tự ưu tiên cần được xác lập rõ: trước hết là an toàn công trình; tiếp đến là bảo vệ tính mạng, tài sản người dân và giảm lũ cho hạ du; sau đó là nước sinh hoạt, các nhu cầu thiết yếu, sản xuất nông nghiệp và phát điện. Trong tình huống nguy cấp, các ưu tiên này không được phép nhập nhằng.

Một quy trình vận hành tốt vì thế không chỉ trả lời khi nào mở cửa xả. Quan trọng hơn, quy trình phải xác định rõ ai quyết định, quyết định dựa trên dữ liệu nào, cảnh báo trước bao lâu và ai chịu trách nhiệm đưa người dân ra khỏi vùng nguy hiểm. Khi bước sang mùa cạn, quy trình cũng phải làm rõ nguồn nước còn lại được phân phối thế nào để nhu cầu thiết yếu không bị đứt gãy.

An dân không bắt đầu khi tiếng còi xả lũ vang lên. An dân bắt đầu từ khi trời còn xanh: từ một bản dự báo đủ tin cậy, bản đồ ngập lụt được cập nhật, phương án sơ tán được chuẩn bị và những quyết định quan trọng được đưa ra đủ sớm.

Đó cũng là thước đo quan trọng nhất của 11 quy trình đang được sửa đổi. Mỗi mét khối nước được giữ lại hay xả đi không chỉ là một quyết định kỹ thuật mà phải góp phần bảo vệ tính mạng, sinh kế và sự bình yên của người dân. Để sau mỗi mùa mưa, điều còn lại không phải là ký ức chạy lũ, mà là niềm tin rằng phía sau mỗi quyết định vận hành luôn có khoa học, trách nhiệm và Nhà nước đồng hành cùng nhân dân.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang sửa đổi 11 quy trình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông Hồng, Mã, Cả, Hương, Vu Gia - Thu Bồn, Trà Khúc, Kôn - Hà Thanh, Ba, Sê San, Srêpốk và Đồng Nai.

Trọng tâm là chuyển từ vận hành theo mốc cố định sang điều hành linh hoạt dựa trên dự báo và dữ liệu thời gian thực; làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của UBND cấp tỉnh và chủ hồ; quy định cụ thể việc cảnh báo trước khi xả lũ; đồng thời điều tiết, phân bổ nước mùa cạn theo trạng thái nguồn nước và nhu cầu thực tế của hạ du.

Nguyễn Thủy - Tùng Đinh - Theo mae.gov.vn